Ngôn ngữ và khó khăn ngôn ngữ ở trẻ em

 

Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển của mỗi đứa trẻ. Thông qua ngôn ngữ, trẻ có thể học hỏi và dần hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Tuy nhiên sự phát triển ngôn ngữ của mỗi đứa trẻ là không giống nhau và có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển. Do đó cha mẹ hiểu và có những tác động tích cực đến sự phát triển của trẻ là yếu tố quan trọng giúp trẻ phát triển ngôn ngữ hiệu quả theo từng giai đoạn khác nhau. Bài viết giới thiệu tổng quan về ngôn ngữ và những khó khăn ngôn ngữ mà mỗi đứa trẻ đều có thể mắc phải.

I. Tầm quan trọng

–  Ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của con người. “Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy”. Hiểu và truyền đạt tri thức đều thông qua ngôn ngữ.

– Con người sống trong xã hội cần phải giao tiếp với nhau. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chính.

– Ngôn ngữ chỉ có ở con người.

– Ngôn ngữ ở con người phong phú, đa dạng, tinh vi.

– Bất đồng ngôn ngữ là một trở ngại to lớn trong việc giao tiếp, giao lưu, phổ biến khoa học…

II. Sơ đồ truyền đạt và tiếp nhận ngôn ngữ

Bộ máy phát âm → Tiếng nói  → Đường dẫn truyền TW thính giác 

        ↑                                                           ↓

    Đường dẫn truyền thần kinh                  Tai (cơ quan coócti)

                         ↑                                          ↓

               Vỏ não và dưới vỏ (cảm thụ, phân tích, ký hiệu, ghi nhớ)

III. Điều kiện để trẻ phát triển ngôn ngữ

– Yếu tố sinh học: Não, vỏ não, các tế bào thần kinh dẫn truyền nguyên vẹn. Các giác quan không bị tổn thương (xúc giác, thính giác, thị giác…): tai, lưỡi, vòm họng, thanh quản…

– Môi trường xã hội và tâm lý thuận lợi.

IV. Một số mốc phát triển ngôn ngữ chính của trẻ

Từ 0 đến 1 tuổi:

  • Biết phân biệt tiếng lạ quen (tiếng của mẹ và của người khác).
  • Quay đầu theo hướng người lớn gọi.
  • Bắt chước một số ngữ điệu của dọng nói.
  • Bé yên lặng khi có người nói với bé.

–  Cho đến 2 tuổi:

  • Bé có khả năng hiểu được một vài mệnh lệnh đơn giản mà người lớn thường dùng.
  • Nói được những từ đầu tiên: ma ma, ba ba, bà bà…
  • Gọi tên được 4 thứ đồ chơi.

– Đến 4 tuổi: Khả năng ngôn ngữ của trẻ tăng vọt, ở giai đoạn này trẻ phát hiện “mọi vật đều có cái tên”. Ngoài việc tăng vốn từ, trẻ dần dần học cách sử dụng nó.

V. Các rối nhiễu ngôn ngữ

1. Không hiểu ngôn ngữ

2. Không nói

3. Nói kém, nói ngọng

4. Nói lắp

5. Đọc hoặc viết kém

Nếu phát hiện thấy con có một số dấu hiệu của các chứng rối nhiễu trên, Phụ huynh nên theo dõi hoặc cho con đi đánh giá ngôn ngữ để nhận biết mức độ khó khăn của học sinh, từ đó gia đình có những phương pháp đúng hơn tác động đến sự phát triển của con, giúp con phát triển đúng hướng hơn.

VI. Đánh giá ngôn ngữ

Trường mầm non Cầu Vồng Xanh sử dụng chương trình đánh giá ngôn ngữ cho các đối tượng học sinh. Theo chương trình, con được học và tham gia cùng các bạn trong thời gian 10 buổi, thông qua các hoạt động theo các bài học, các con sẽ được đánh giá mức độ phát triển cũng như các khả năng ngôn ngữ của trẻ. Nhờ đó phát hiện, chẩn đoán các khó khăn ngôn ngữ con có thể gặp phải như các mức độ nói ngọng, nói lắp, nói kém, không hiểu ngôn ngữ,… Chương trình đánh giá ngôn ngữ riêng theo từng khả năng phát triển của trẻ trong thời điểm hiện tại

VII. Trị liệu các rối nhiễu ngôn ngữ

– Nói chung các rối nhiễu không do thực tổn thì đều trị được.

– Tuổi nhỏ càng dễ chữa, tốt nhất là  trước 5 tuổi.

– Thông thường trẻ hiểu lời nói trước khi biết nói. Ngôn ngữ chỉ xuất hiện khi trẻ đã tích luỹ được một số lượng từ ngữ nhất định.

– Nếu trẻ 18 tháng tuổi mà chưa hiểu được lời nói thì vẫn không phải là bệnh lý vì các mốc đề ra chỉ là hết sức tương đối.

– Bố mẹ, người thân tăng cường tiếp xúc với con: nói, kể chuyện, hát… cho con nghe và khuyến khích con lặp lại những gì được nghe, được kể.

– Vừa nói một từ vừa đưa ra một đồ vật. VD: Đây là con chó, con chó đâu rồi? con chó làm gì? (coi nhà) con chó kêu như thế nào? (gâu, gâu). khuyến khích trẻ bắt chước.  Nói một đồ vật trong nhiều tình huống, hoàn cảnh khác nhau thì trẻ dễ nhớ và nhớ rất lâu từ đó.

– Các hoạt động luôn kèm theo lời nói: chào, hoan hô,  múa, cho, xin…

– Tìm hiểu sự quan tâm của trẻ: Khi trẻ đưa mắt nhìn chiếc ô tô,một con chim… thì lặp lại tên của đồ vật ấy mỗi lần xuất hiện.

– Tập nói ít một, thời gian không nên kéo dài khiến trẻ mỏi mệt.

Dạy trẻ ít một nhưng cần lặp lại củng cố nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định.(nhiều bố mẹ thấy trẻ nói được hay “tham” bắt trẻ lặp lại nhiều lần làm trẻ chán. Khi trẻ vui vẻ, thoải mái thì dậy, khi thấy trẻ chán, mệt thì lập tức dừng lại ngay. (dần dần, từ từ, chút một).

Trẻ không nói → nói vài từ ( có thể đúng, sai hoặc phù hợp hay không) → nói nhiều, nói có nghĩa (có nội dung, phù hợp với tình huống, hoàn cảnh) → Tự nói (độc lập, tự chủ, không cần sự giúpa đỡ của người lớn).

– Lựa chọn những ý đơn giản, dễ hiểu, dọng nói uyển chuyển, sinh động thu hút chú ý của trẻ. Kết hợp với nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…

Cần chú ý là lúc đầu trẻ phản ứng với sắc thái tình cảm, dọng nói, điệu bộ hơn là ý nghĩa của lời nói.

– Phải tập cho trẻ sử dụng ngôn ngữ đã có trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Mục đích củng cố ngôn ngữ gắn liền với các đồ vật, hành động thường gặp.

– Không cầu toàn:  Trẻ nói theo kiểu từ-câu: đi -bố đi, chào-chào mẹ, sữa-uống sửa… Trẻ sẽ nói từ ít đến nhiều. Ngôn ngữ dần dần mới trở nên hoàn thiện.

– Khả năng bắt chước của trẻ rất tốt. nếu trẻ thấy mọi người trong gia đình chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, tạm biệt…thì dần dần trẻ con cũng tự nhiên bắt chước.

– Không đáp ứng ngay các mong muốn của trẻ. Nên có những “bình luận” kèm theo: Con muốn gì nào? con muốn uống nước hả? đây là cái cốc nước, chúng ta sẽ rót vào côc, uống nước… lời nói luôn đi kèm với các hành động. Dần dần trẻ sẽ gắn được lời nói với cử chỉ…