Trẻ Tự kỷ

 

 

 Tự kỷ là một hội chứng rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng suốt đời đến sự phát triển của mỗi đứa trẻ. Ở trẻ tự kỷ thường gặp những khó khăn về ngôn ngữ, khó khăn về tương tác giao tiếp xã hội và xuất hiện những hành vi cứng nhắc, định hình

 

 

giáo dục trẻ tự kỷ Trẻ Tự kỷ Trẻ Tự kỷ gi o d c tr t k

1.Tự kỷ là gì?

* Tự kỷ là rối loạn phát triển lan tỏa với sự thiếu hụt ở những lĩnh vực sau:

(1) Sự thiếu hụt rõ rệt về tương tác xã hội

(2) Sự thiếu hụt rõ rệt về giao tiếp ( Bao gồm cả giao tiếp có lời và giao tiếp không lời)

(3) Kiểu hành vi, mối quan tâm, hành động rập khuôn định hình, lặp đi lặp lại và thu hẹp

* Mức độ thiếu hụt có thể từ nhẹ đến nặng

* Rối loạn mang tính chất hỗn hợp

Khi trẻ có các biểu hiện ở cả 3 lĩnh vực trên gọi là rối loạn tự kỷ diện rộng.

2. Các dấu hiệu của tự kỷ?

Tự kỷ có nhiều đặc điểm đa dạng từ mức nhẹ đến nặng. Những trẻ mắc chứng tự kỷ thường có các dấu hiệu:

– Có khó khăn trong giao tiếp với người khác: trẻ không cười, nhìn vào mắt người đối diện, không có tương tác với người chăm sóc, không bò/ đi đến người chăm sóc để được bế. Trẻ nói những từ, ngữ không có nghĩa, hay gầm gừ, có sự lặp lại không ngừng một từ hay một câu vô nghĩa. Trẻ như điếc mặc dù thính lực bình thường (giật mình khi có tiếng động).

– Có những hành vi rập khuôn, lặp đi lặp lại, ví dụ như lắc lư người ra phía trước và phía sau, đập đầu, giữ khư khư một đồ vật, bật tắt công tắc liên tục, chuyển đồ chơi từ tay này sang tay khác liên tục…

– Ít hứng thú và ít hoạt động. Trẻ em tự kỷ không phát triển được hoạt động chơi mang tính sáng tạo, ví dụ như trò chơi đóng vai “chúng ta hãy giả vờ là…”, theo cách mà những trẻ khác thường chơi. Việc chơi của trẻ Tự kỷ thường cứng nhắc dập khuôn: xoay bánh xe ô tô thay vì cho xe chạy, ít chơi lần lượt với bạn hoặc với anh chị em trong nhà…

– Khó thích ứng với sự thay đổi hoàn cảnh hoặc những công việc/ diễn biến thường diễn ra hàng ngày. Trẻ Tự kỷ cứng nhắc trong tư duy vì vậy trẻ gặp khó khăn để hiểu và tự điều chỉnh khi có sự thay đổi: trẻ đi theo một con đường nhất định để về nhà hoặc đến trường…, chơi xếp hình chỉ theo cách riêng của từng trẻ, chỉ ăn một thức ăn nhất định (cháo, bánh mì..). Nếu thay đổi cách khác với trẻ, lập tức trẻ phản ứng mạnh mẽ (la khóc, cào cấu…) để chống lại sự thay đổi.

– Những trẻ mắc hội chứng Tự kỷ thường bị ám ảnh với những vật cá biệt hay những hành vi đặc biệt, tập trung vào chúng mà không quan tâm đến những việc khác xung quanh.Trẻ cũng có “những vùng phát triển khả năng đặc biệt”. Một số trẻ tự kỷ tổn thương nặng ở nhiều khả năng nhưng họ cũng có thể thể hiện được những tài năng như trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật, toán và cơ khí.

Các dấu hiệu của chứng tự kỷ thường xuất hiện sớm từ những năm đầu đời, nhưng đôi khi chúng cũng xuất hiện sau một số tháng phát triển bình thường. Trong hầu hết các trường hợp, không thể xác định được sự kiện nào là sự kiện khiến trẻ đang phát triển bình thường lại dần thoái triển, rơi vào chứng tự kỷ.

 

 Cha mẹ nên đưa trẻ đến các nhà chuyên môn (bác sĩ nhi, nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần…) nếu:

– 12 tháng tuổi, trẻ không bập bẹ, bi bô.

– 12 tháng tuổi, trẻ không ra hiệu, làm điệu bộ như vẫy tay, chỉ chỏ, với đồ chơi

– 16 tháng tuổi, trẻ không nói được từ nào.

– 2 tuổi, trẻ không nói được câu ngắn nào đáp trả.

– Ở mọi độ tuổi, có sự mất/ suy thoái các kĩ năng ngôn ngữ và xã hội.

3. Tỉ lệ mắc phải:

Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, cứ 10,000 người thì có 12 người mắc chứng tự kỹ và số lượng trẻ nam mắc phải cao gấp 3 lần số trẻ nữ.

4. Nguyên nhân của hội chứng tự kỷ

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu và giả thuyết đưa ra về nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ ở trẻ em. Tuy nhiên tất cả các nguyên nhân đó cũng chỉ là trên giả thuyết chứ chưa giải thích được một cách hợp lý nhất. Tổng hợp các nguyên nhân đó, có thể đưa ra một số nội dung như sau:

– Di truyền: đã và đang xác định có bằng chứng về biến đổi gen, do tổng hợp của nhiều gen bất thường gây nên.

– Anh chị em trong gia đình cùng bị tự kỷ: 3 – 7% (>50% mới là nguy cơ cao). Nghiên cứu ở trẻ sinh đôi đồng hợp tử có tỷ lệ cao cùng bị tự kỷ

– Các yếu tố khác: Nhiễm trùng trước và trong khi sinh, chấn thương khi sinh, nhiễm độc hóa chất gây tổn thương não bộ. Còn vai trò của vacxin, uống sữa, ăn nhiều gluten… gây tự kỷ chưa có bằng chứng khoa học.

– Môi trường xã hội và gia đình thiếu kích thích trẻ trong tương tác, không chơi cùng trẻ, phát hiện muộn các dấu hiệu tự kỷ – là một nhận tố góp phần làm cho tự kỷ năng lên mà không phải là nguyên nhân chính.

Hiện nay vẫn cho rằng tự kỷ do nhiều yếu tố kết hợp với nhau ảnh hưởng tới não bộ gây ra những biểu hiện bất thường về tâm lý

 

5. Can thiệp trẻ tự kỷ tại trường mầm non cầu vồng xanh

can thiệp cá nhân Trẻ Tự kỷ Trẻ Tự kỷ 5

 Phát hiện sớm là điều có ý nghĩa quan trọng cho việc trị liệu trẻ mắc chứng tự kỷ, vì khi được phát hiệp và can thiệp sớm, trẻ sẽ được trợ giúp để phát triển ngay từ đầu các kĩ năng ngôn ngữ, xã hội, nhận thức. Việc can thiệp cho trẻ tự kỷ thường bao gồm:

– Phương pháp điều hòa đa giác quan

– Trị liệu hành vi

– Luyện tập, giáo dục cho trẻ các kĩ năng ngôn ngữ, nhận thức, xã hội và kĩ năng tự phục vụ bản thân.

– Hướng dẫn, tư vấn cha mẹ trẻ để hỗ trợ trẻ.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp được áp dụng để can thiệp cho trẻ tự kỷ, tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng và từng học sinh có những đặc điểm riêng và phù hợp với những phương pháp khác nhau. Do đó việc áp dụng các phương pháp và can thiệp cho con cũng cần được quan sát, đánh giá và điều chỉnh nội dung phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ.