Tin tức

 

Hội chứng tự kỷ được biết đến nhiều ở Việt Nam trong mấy năm gần đây và triệu chứng của bệnh thường bắt đầu trong 3 năm đầu đời của trẻ. Tuy nhiên, một số phòng khám khi làm chẩn đoán do thiếu kinh nghiệm lâm sàng nên nhầm lẫn giữa chậm phát triển trí tuệ với tự kỷ. Do vậy, việc chẩn đoán đúng và phát hiện sớm có ý nghĩa quan trọng trong việc trị liệu cho trẻ tự kỷ.

 

Một trong những nguyên nhân là do gia đình thiếu hiểu biết

PGS,TS Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho biết: Tự kỷ là một chứng bệnh liên quan đến rối loạn phát triển tâm lý khiến người mắc bệnh có những biểu hiện bất thường trong quan hệ giao tiếp xã hội, sống thu mình và ngại tiếp xúc.
Triệu chứng của bệnh tự kỷ thường bắt đầu trong 3 năm đầu đời của trẻ và các bé trai thường mắc bệnh này nhiều hơn các bé gái. Bệnh ngày càng có triệu chứng gia tăng trong những năm gần đây do tác động của nhịp sống kinh tế thị trường… Giống như các căn bệnh rối loại về tâm sinh lý khác, tự kỷ có thể trở thành bệnh mãn tính tồn tại trong suốt cuộc đời bệnh nhân nếu không được can thiệp điều trị đúng và kịp thời.
Tại Việt Nam, theo số liệu của Bộ Thương binh và Xã hội, có khoảng từ 5 – 7% trẻ em tàn tật ở độ tuổi dưới 15, trong đó trẻ em tự kỷ và bại não chiếm khoảng trên 40%.
Theo thống kê của Bệnh viện Châm cứu Trung ương, số trẻ mắc bệnh tự kỷ mới ngày càng gia tăng nên các cơ sở điều trị cho trẻ tự kỷ đều bị quá tải. Hàng năm có trên 3.000 lượt trẻ bị bệnh bại não và tự kỷ đến điều trị tại khoa Nhi của Bệnh viện. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu điều tra, thống kê chính thức về trẻ tự kỷ. Nhưng nếu ước lượng theo tỷ lệ của nước Anh thì Việt Nam hiện có 83 triệu dân, sẽ có khoảng trên 160.000 người tự kỷ.
Cho đến nay chưa có sự thống nhất về nguyên nhân gây ra tự kỷ, nhưng xu hướng chung cho rằng tự kỷ do nhiều nguyên nhân gây nên. Tuy nhiên, mới đây nhất, các nhà nghiên cứu trên thế giới thấy rằng hội chứng tự kỷ liên quan đến rối loạn gen, não bất thường, mất cân bằng sinh hóa, di truyền, những yếu tố trong lúc mang thai và sau sinh (nhiễm trùng nước ối, bệnh sởi trong lúc mang thai…).
Thạc sỹ Dương Văn Tâm, Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho biết: Theo kết quả nghiên cứu, đánh giá 76 trẻ được chẩn đoán xác định là tự kỷ trong độ tuổi từ 20 tháng đến 7 tuổi vào điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương trong thời gian từ 2008 – 2011 cho thấy, tỷ lệ trẻ mắc bệnh tự kỷ là 8 bé trai/1 bé gái và trẻ ở thành thị mắc chứng tự kỷ nhiều hơn trẻ ở nông thôn; tuổi thấp nhất khi nhập viện lần đầu của trẻ là 20 tháng tuổi và tuổi lớn nhất là 68 tháng tuổi; khoảng 12% số trẻ được phát hiện các dấu hiệu của bệnh tự kỷ trước 2 tuổi; 19,74% số trẻ được phát hiện là do cô giáo chứ không phải là bố mẹ hay ông bà; 56,58% trẻ được phát hiện bệnh nhờ dấu hiệu chậm nói (trẻ đã hơn 2 tuổi).
Như vậy, có nghĩa là tỷ lệ phát hiện bệnh trước 2 tuổi còn quá thấp, đặc biệt là có tới 60,53% số trẻ được gia đình nhận định là phát triển bình thường trong năm đầu. Đáng quan tâm hơn là chỉ có 1/5 số trẻ được bố mẹ có thời gian giao tiếp nhiều hơn 2 giờ mỗi ngày và chỉ có 47,37% số trẻ được đưa đi khám ngay khi phát hiện có những dấu hiệu bất thường.
Thạc sỹ Dương Văn Tâm nhấn mạnh, trước khi phát hiện bệnh chỉ có một nửa số trẻ được đi học hòa nhập tập thể, còn lại là ở nhà với ông bà và người giúp việc. Các số liệu trên cho thấy kiến thức về tự kỷ, về phát triển tâm lý trẻ em ở các phụ huynh còn yếu. Bên cạnh đó, các phụ huynh còn chưa quan tâm, còn chủ quan với bệnh tự kỷ. Đặc biệt, nhiều bậc cha mẹ do bận công tác nên ít quan tâm chăm sóc và gần gũi trẻ. Đây cũng là nguyên nhân làm trẻ phát bệnh nặng hơn.
Cũng theo kết quả điều tra, nghiên cứu cho thấy: Tiền sử gia đình có người bị bệnh lý tâm thần chỉ chiếm 6,58% số trẻ mắc bệnh tự kỷ; tiền sử thai sản bất thường và nhẹ cân chiếm 1 nửa số trẻ nghiên cứu. Các nghiên cứu về địa dư, nghề nghiệp, trình độ văn hóa của mẹ, tuổi trung bình của mẹ khi mang thai trẻ chưa thể giúp khẳng định được nguyên nhân tự kỷ.

Báo động gia tăng trẻ mắc bệnh tự kỷ Báo động gia tăng trẻ mắc bệnh tự kỷ Báo động gia tăng trẻ mắc bệnh tự kỷ B  o      ng gia t  ng tr    m   c b   nh t    k

Chẩn đoán đúng và phát hiện sớm có ý nghĩa quan trọng
Theo các bác sỹ chuyên khoa tâm thần, trẻ mắc bệnh tự kỷ có những đặc điểm như: Chậm trễ trong ngôn ngữ nói như không nói được từ đơn khi 16 – 18 tháng, không nói được từ đôi khi 24 tháng, trẻ chậm nói so với các bệnh cùng tuổi; trẻ nói những từ, ngữ không có nghĩa, hay gầm gừ, có sự lặp lại không ngừng một từ hay một câu vô nghĩa; có khó khăn trong giao tiếp với người khác (trẻ không cười, nhìn vào mắt người đối diện, không có tương tác với người chăm sóc, khi trẻ muốn một đồ vật gì trẻ thường tự lấy hoặc dắt tay người lớn chỉ lấy hộ); có những hành vi dập khuôn, định hình (như quay tròn, đi nhón chân, thích chơi với các đồ vật hình tròn, phát âm các từ rỗng, xoay tay, bật tắt công tắc liên tục, chuyển đồ chơi từ tay này sang tay khác liên tục…) và khó thích ứng với sự thay đổi hoàn cảnh (khi thay đổi chỗ ngồi, nơi ngủ, đồ ăn trẻ thường khó thích nghi).
Để chẩn đoán trẻ mắc bệnh tự kỷ cần phải tuân theo các nguyên tắc sau: các triệu chứng thuộc các nhóm khiếm khuyết xuất hiện cùng một thời điểm, ít nhất có 3 triệu chứng thuộc mỗi nhóm; các triệu chứng phải tồn tại ít nhất 6 tháng; xuất hiện trước 36 tháng tuổi; đặc biệt chỉ chẩn đoán tự kỷ sau 36 tháng tuổi trở đi.
Bác sỹ Đỗ Thúy Lan, Chuyên khoa II tâm thần, Giám đốc Trung tâm Sao Mai (Trung tâm tư vấn Phát hiện sớm – can thiệp sớm khuyết tật trí tuệ) cho biết: Hầu như phụ huynh đều bị sốc khi bác sĩ kết luận con họ mắc hội chứng tự kỷ. Bởi hiện tại, tự kỷ chưa có thuốc chữa, trẻ mắc tự kỷ khi nhỏ thì lớn lên, trưởng thành vẫn là người tự kỷ. Khoa học đang nghiên cứu để tìm nguyên nhân và thuốc chữa. Tuy nhiên nếu trẻ tự kỷ được phát hiện, chẩn đoán sớm và được can thiệp sớm một cách bài bản, toàn diện, hợp lí và kiên trì trước 40 tháng tuổi thì trẻ có thể tiến bộ tốt, phát triển tương đối bình thường để hòa nhập một cách tương đối trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội.
Nếu được phát hiện sớm, trẻ có thể hòa nhập với cộng đồng, tự lập trong cuộc sống, còn nếu không được điều trị sẽ không nói được, sống lệ thuộc vào sự chăm sóc của người khác, qua 10 tuổi dễ bị tâm thần. Trước đây, tự kỷ bị hiểu nhầm là rối loạn thần kinh, chậm phát triển trí tuệ. Đây là một quan điểm sai lầm làm khổ tâm nhiều bậc phụ huynh và sai lầm trong phương pháp can thiệp. Hiện nay, y học hiện đại chưa có thuốc đặc hiệu cho bệnh tự kỷ mà chỉ điều trị các tổn thương não kèm theo như động kinh, tăng động…
Chính vì vậy, các hoạt động chủ yếu vẫn là can thiệp sớm cho trẻ với nhiệm vụ của giáo viên đặc biệt, chuyên viên tâm lý, bác sỹ nhi khoa và nhất là phụ huynh bởi yếu tố gia đình vẫn là quyết định tới kết quả can thiệp. Phát hiện sớm là điều có ý nghĩa quan trọng cho việc trị liệu trẻ mắc chứng tự kỷ. Khi phát hiện và can thiệp sớm, trẻ sẽ được khắc phục ngay những khiếm khuyết của mình và trợ giúp để phát triển ngay từ đầu các kỹ năng ngôn ngữ, xã hội và nhận thức. Việc can thiệp cho trẻ tự kỷ thường tập trung vào: Luyện tập, giáo dục cho trẻ các kỹ năng ngôn ngữ, nhận thức, tư duy, giao tiếp, xã hội và kỹ năng tự phục vụ bản thân. Trong quá trình trị liệu cho trẻ tự kỷ cần áp dụng đa dạng các phương pháp khác nhau như: Ứng dụng phân tích hành vi, liệu pháp ngôn ngữ, trị liệu về vận động, trị liệu kỹ năng xã hội, vật lý trị liệu, liệu pháp trò chơi, trị liệu hành vi, các liệu pháp phát triển, các liệu pháp dựa và trực quan, những liệu pháp y sinh học…
PGS,TS Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương khẳng định: Trẻ mắc chứng tự kỷ sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội bởi vì giống như các căn bệnh rối loạn về tâm sinh lý khác, tự kỷ có thể trở thành bệnh mãn tính và tồn tại trong suốt cuộc đời bệnh nhân. Trước thực trạng đó, bệnh viện đã nghiên cứu, triển khai, xây dựng quy trình điều trị giữa y học cổ truyền và y học hiện đại, giữa y học và giáo dục và thành lập đơn vị “Châm cứu, điều trị và chăm sóc đặc biệt cho trẻ tự kỷ, bại não”.
Hiện nay, tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, trẻ mắc bệnh tự kỷ và bại não được điều trị tại đơn vị này với phương pháp kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại. Các phương pháp điều trị theo y học cổ truyền gồm: Đại trường châm, thủy châm, cấy chỉ, xoa bóp bấm huyệt, tắm dược thảo…; phương pháp điều trị theo y học hiện đại gồm: Chiếu đèn hồng ngoại, chiếu đèn tử ngoại, giáo dục kỹ năng sống; Tập vận động phục hồi chức năng./.

 

(Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em)


10 phút gặp chuyên gia tâm lý là không đủ để đánh giá chính xác trẻ có bị hội chứng tự kỷ hay không ở giai đoạn sớm, theo một nghiên cứu mới đây tại Mỹ.

Khảo sát do tiến sĩ Terisa Gabrielsen, Trung tâm Nghiên cứu Bệnh Tự kỷ, Bệnh viện Nhi Philadelphia, Mỹ thực hiện. 3 nhóm trẻ 15-33 tháng tuổi được chọn để đánh giá. Trong đó, nhóm thứ nhất gồm những trẻ có biểu hiện sớm của bệnh tự kỷ, nhóm thứ 2 nghi ngờ chậm phát triển ngôn ngữ và nhóm thứ 3 là các bé đã có những dấu hiệu đặc trưng của bệnh. Hiện tại, thời gian trung bình cho một buổi làm việc giữa chuyên gia và trẻ là 10 phút.

Ảnh minh họa: Coastkid.

Trẻ tự kỷ dễ bị chẩn đoán sót Trẻ tự kỷ dễ bị chẩn đoán sót Trẻ tự kỷ dễ bị chẩn đoán sót Tr    t    k    d    b    ch   n   o  n s  t1

Theo Medsacpe news, tham gia nghiên cứu, các chuyên gia tâm lý được cho xem nhiều đoạn video có thời lượng 10 phút quay các nhóm trẻ này. Dĩ nhiên họ không được biết trẻ trong đoạn băng thuộc nhóm nào. Sau khi xem xong, họ sẽ được hỏi ý kiến xem trẻ trong đoạn băng đó có nghi ngờ bị tự kỷ hay không.

Kết quả cho thấy, có đến 39% các chuyên gia không đúng khi đánh giá về trẻ thuộc nhóm có biểu hiện sớm của bệnh. Con số này ở nhóm thứ 2 là 5% và ở nhóm thứ 3 là 11%.

Theo tiến sĩ Gabrielsen thì ở giai đoạn sớm của bệnh tự kỷ, trẻ thường thể hiện một số hành vi không điển hình nhưng nhiều chuyên gia lại coi những hành vi này khá điển hình. Vì thế, nếu chỉ dành vài phút tiếp xúc với trẻ thì sẽ có nhiều khả năng trẻ dễ bị chẩn đoán sót.

Quy trình chẩn đoán trẻ tự kỷ thực sự phức tạp, và khoảng thời gian 10 phút này thực sự ngắn ngủi“, tiến sĩ Gabrielsen nói.

Không được chẩn đoán sớm bệnh, trẻ sẽ không được can thiệp kịp thời. Như thế ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển cũng như sự hòa nhập của trẻ sau này.

Tự kỷ là một chứng bệnh được gây ra bởi những vấn đề trong hoạt động chức năng của hệ thần kinh trung ương (não bộ) ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ. Các triệu chứng của tự kỷ thường xuất hiện trong 3 năm đầu tiên của cuộc đời biểu hiện qua sự suy giảm trên các lĩnh vực như tương tác xã hội; giao tiếp và ngôn ngữ; hứng thú bị thu hẹp và hành vi định hình.

Nguồn VnExpress 


Trẻ tự kỷ nếu được phát hiện sớm (trước 3 tuổi) sẽ có nhiều cơ hội trở thành người bình thường và hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, thực tế, phần lớn các em đều được can thiệp muộn.

Bé Bảo (Tây Hồ, Hà Nội) được phát hiện tự kỷ khi 3 tuổi với các biểu hiện như không giao tiếp với người khác, kể cả bố mẹ, thường thu mình trong phòng với chiếc ô tô đồ chơi và trò chơi em có thể chơi cả ngày không chán là quay bánh xe. Cháu nói rất ít, không biết trả lời mà chỉ có thể nhắc lại lời của người khác một cách máy móc, ánh mắt luôn nhìn vào không gian vô định. Bảo sợ các con côn trùng từ gián, chuột, ruồi, muỗi và tiếng động từ chiếc máy xay sinh tố, máy sưởi, quạt…

Bố mẹ bé Bảo một là giảng viên đại học, một là chuyên viên của Bộ ngoại giao. Việc có thai bé là ngoài mong muốn vì mẹ em sợ ảnh hưởng tới con đường phấn đấu cho sự nghiệp. Trong thời kỳ mang thai và sau sinh, người mẹ luôn cảm thấy ức chế tâm lý. Khi đi làm trở lại, chị giao hoàn toàn việc chăm sóc con cho người giúp việc. Ở nhà ngoài giờ ăn, tắm rửa, bà giúp việc lấy đồ chơi cho cháu tự chơi hoặc mở TV cho cháu xem. Mọi người đều khen cháu ngoan. Tới khi Bảo 3 tuổi, gia đình mới nhận thấy những bất thường và đưa cháu đi khám. Khi biết cháu bị tự kỷ, bố mẹ đều sốc và từ đó mới thay đổi nếp sinh hoạt, dành thêm thời gian cho con.

Chủ quan, nhiều cha mẹ không phát hiện con tự kỷ Chủ quan, nhiều cha mẹ không phát hiện con tự kỷ Chủ quan, nhiều cha mẹ không phát hiện con tự kỷ Ch    quan nhi   u cha m    kh  ng ph  t hi   n con t    k

(Ảnh Minh họa)

Còn trường hợp của cháu Toàn, 5 tuổi ở Hưng Yên gặp hạn chế trong việc giáo dục và hỗ trợ tâm lý vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn.

Bố mẹ em lên Hà Nội kiếm sống, lao động chân tay vất vả, thu nhập bếp bênh. Khi thấy con 2 tuổi mới tập nói, không hề có tương tác khi được gọi, bố mẹ mới đưa con đi khám. Bé được chẩn đoán là tự kỷ và được tư vấn cần tham gia chương trình can thiệp sớm. Vì eo hẹp kinh tế, bố mẹ cháu phải vay mượn để đưa con đi chữa nhưng sau một thời gian không thấy con khỏi mà tiền đã cạn, họ đành đưa cháu về quê.

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó viện trưởng Viện khoa học giáo dục, ở Việt Nam chưa có số liệu chính thức về tỷ lệ mắc hội chứng tự kỷ. Nghiên cứu mô hình tàn tật ở trẻ em của khoa Phục hồi Chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2000-2007 cho thấy, số lượng trẻ được chẩn đoán và điều trị tự kỷ ngày càng đông. Năm 2007, số trẻ tự kỷ đến khám tăng gấp 50 lần so với năm 2000, số trẻ đến điều trị tăng gấp 33 lần so với năm 2000.

Theo bà, phát hiện sớm trẻ tự kỷ đang là vấn đề cấp bách và quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Trẻ tự kỷ nếu được phát hiện sớm sẽ có nhiều cơ hội trở thành người bình thường và hòa nhập xã hội. Trong khi đó, ở nước ta, phần lớn các bác sĩ nhi khoa chưa hiểu rõ về tự kỷ và không có các kỹ năng chẩn đoán sớm, nên rất nhiều trẻ được phát hiện muộn sau 36 tháng tuổi. Tỷ lệ trẻ tự kỷ đến khám và được chẩn đoán muộn tại Bệnh viện Nhi trung ương lên tới gần 44%.

Trong một nghiên cứu về nhu cầu của gia đình có trẻ tự kỷ được tiến hành tại Hà Nội và TP HCM cho thấy, có chưa đầy 1/4 số trẻ mắc được phát hiện sớm trước hai tuổi, 45% trẻ được can thiệp lúc dưới 3 tuổi, 1/5 trẻ nhận được can thiệp lúc 3-4 tuổi và khoảng 16% là sau 4 tuổi.

Theo bác sĩ Đỗ Thúy lan, Giám đốc một trung tâm can thiệp, trước khi được cán bộ y tế phát hiện mắc hội chứng tự kỷ, chỉ có một số trẻ đi học được giáo viên phát hiện các biểu hiện không bình thường và tư vấn đi khám, còn lại một số trẻ do bố mẹ bận kinh doanh, công việc… nên để con ở nhà với ông bà hoặc người giúp việc, xem TV, xem băng đĩa, chơi Ipad nhiều đã làm trẻ không có cơ hội tương tác và học hỏi các kỹ năng cũng như phát triển ngôn ngữ-giao tiếp dẫn đến tình trạng chậm phát triển trí tuệ nặng thêm.

Ngoài ra, hiện nay, chưa có mô hình dịch vụ phát hiện sớm, can thiệp sớm trẻ tự kỷ của nhà nước, chưa có mô hình chuyên biệt, mọi dịch vụ đều do tự phát… “Nhiều người không được đào tạo chuyên ngành giáo dục đặc biệt mở trung tâm hoặc nhận gia sư tại nhà, trị liệu ngôn ngữ và dạy trẻ tự kỷ… đã làm mất đi cơ hội ‘vàng’ trong can thiệp sớm của trẻ tự kỷ”, bà Lan nói.

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hương Giang, Khoa phục hồi chức năng, bệnh viện nhi Trung Ương, bố mẹ có thể nhận biết sớm con tự kỷ dựa vào việc quan sát những dấu hiệu bất thường của trẻ.

Dấu hiệu nhận biết sớm tự kỷ ở trẻ 0-6 tháng:

– Thờ ơ với âm thanh (cảm giác như trẻ bị điếc).

– Hành vi bất thường: tăng động (kích động khó ngủ, khóc nhiều, khó dỗ dành, hay bị cơn đau quặn bụng do đầy hơi, khó chịu không lý do) hoặc trẻ thờ ơ, yên lặng, dường như thích ở một mình, ít đòi hỏi cha mẹ chăm sóc.

– Khả năng tập trung kém: Không chú ý hoặc tập trung như các trẻ cùng tuổi khác. Ít hoặc không nhìn vào mặt người đang nói chuyện.

– Bất thường về vận động: giảm hoạt động, có tư thế bất thường khi được bế.

Dấu hiệu nhận biết sớm tự kỷ ở trẻ 6-12 tháng:

– Phát triển các hành vi bất thường: chơi một mình, chơi với các ngón tay và tay ở trước mặt, sử dụng đồ vật một cách bất thường như gãi, cào hay cọ xát…

– Không chú ý đến người khác.

– Không phát âm hoặc rất ít.

– Bất thường về vận động: Giảm hoặc tăng trương lực, giảm hoạt động hoặc hoạt động quá mức.

– Ít hoặc không sử dụng kỹ năng giao tiếp không lời (vẫy tay chào, tạm biệt, chỉ tay…)

Dấu hiệu nhận biết sớm trẻ tự kỷ trên 12 tháng:

Trẻ khiếm khuyết về các kỹ năng giao tiếp xã hội:

– Mất hoặc không đáp ứng với âm thanh

– Không có hoặc giảm kỹ năng giao tiếp không lời (giao tiếp bằng mắt, cử chỉ tay chân, biểu lộ nét mặt khi vui buồn, gật lắc đầu…). Giao tiếp bằng mắt bất thường (có thể quay đi, tránh không nhìn chăm chăm, ánh mắt đờ đẫn trống vắng hoặc tránh không nhìn khi giao tiếp…)

– Không hoặc ít phát ra âm thanh, không cười thành tiếng. Không nói, chậm nói, nói kém, nói sõi nhưng ít khởi xướng nói, gặp người lạ không nói…

– Hoạt động theo nhóm giảm, khó tham gia vào trò chơi, kỹ năng chơi nghèo nàn, rập khuôn, thờ ơ.

– Hành vi bất thường: tự đánh mình, đánh người khác, cử động khác thường tay chân (vẫy tay, vê xoắn tay, khi đi kiễng chân… ), tự kích thích mình (hét lên, vẩy tay, chạy vòng tròn, sờ bộ phận sinh dục)…

Phụ huynh cũng có thể tham khảo 5 dấu hiệu cờ đỏ phát hiện sớm tự kỷ của Viện Hàn lâm thần kinh học của Mỹ:

– Không bi bô, không biết dùng cử chỉ, ra dấu vào khoảng 12 tháng.

– Không biết nói từ đơn khi 16 tháng.

– Không biết đáp lại khi được gọi tên.

– Không tự nói được câu có hai từ khi 24 tháng.

– Mất kỹ năng ngôn ngữ hoặc xã hội ở bất kỳ độ tuổi nào.

Theo Vnexpress


Từ năm 1980 đến nay, tỉ lệ mắc tự kỷ ngày càng tăng. Tại Trung Quốc, ở trẻ 2-6 tuổi, tỉ lệ mắc tự kỷ là 11/10.000. Ở Hồng Kông từ năm 2001–2005, tỉ lệ mắc tự kỷ ở nhóm dưới 5 tuổi là 7.9/10.000.

 

Nhìn chung tỉ lệ tự kỷ đã tăng dần lên, khoảng 25/10.000 ở trẻ dưới 5 tuổi.  Ở VN, ước tính có trên 160.000 trẻ mắc bệnh. Ng.H (Theo BV Nhi T.Ư). Dưới đây là cách nhận biết dấu hiệu trẻ tự kỷ theo từng giai đoạn:

Mới sinh đến 6 tháng tuổi:

• Dễ nổi giận, dễ trầm cảm.
• Không với lấy đồ vật khi đưa trước mặt trẻ.
• Không có những âm thanh bi bô.
• Thiếu nụ cười giao tiếp.
• Thiếu giao tiếp bằng mắt.
• Không có phản ứng khi được kích thích.
• Phát triển vận động có thể bình thường.

Từ 6 – 24 tháng

• Không thích âu yếm, cơ thể có thể mềm yếu hay cứng nhắc khi được ôm.
• Không thân thiện với cha mẹ.
• Gọi tên hầu như không phản ứng đáp lại.
• Không chơi các trò chơi xã hội đơn giản (“Ú à”, “Bye-bye”).
• Chưa có dấu hiệu ngôn ngữ.
• Dường như không quan tâm đến các đồ chơi của trẻ em.
• Thích nhìn ngắm các bàn tay của mình.
• Không nhai hoặc không chấp nhận những thức ăn cứng.
• Thích đi kiễng chân – đi bằng 5 đầu ngón chân.
• Thường phát ra các âm thanh vô nghĩa.

Từ 2 đến 3 tuổi

• Thích chơi một mình, không kết bạn, tránh giao tiếp.
• Không nói được từ có 2 tiếng trở lên khi đã 2 tuổi. 
• Thích xem sách, tạp chí, các nhãn mác và logo quảng cáo.
• Coi người khác như một công cụ – kéo tay người khác khi muốn yêu cầu.
• Chưa biết dùng ngón trỏ để chỉ điều trẻ muốn.
• Sử dụng đồ chơi không thích hợp.
• Không có nỗi sợ giống trẻ bình thường, đồng thời có những hoảng sợ một cách vô cớ.
• Không hợp tác với sự chỉ dẫn, dạy bảo của người lớn.
• Không biết gật đầu đồng ý và lắc đầu không 
đồng ý.
• Tránh giao tiếp bằng mắt, không nhìn thẳng vào người đối diện.
• Không đoán biết được những nguy hiểm.
• Thích ngửi hay liếm đồ vật.
• Thích chạy vòng vòng, xoay vòng vòng và quay các loại bánh xe.
•    Ngưng nói ở bất cứ tuổi nào, dù trước đó đã biết nói.

Từ 4 đến 5 tuổi

• Trẻ bị chậm nói, nếu có ngôn ngữ phát triển, có thể có chứng nhại lời (lặp lại theo kiểu học vẹt những gì người khác nói).
• Có vẻ rất nhớ đường đi và địa điểm.
• Thích các con số và thích đọc tiếng nước ngoài.
• Rất tốt khi thao tác các sản phẩm điện tử.
• Thích nhìn nghiêng hay liếc mắt khi ngắm nghía đồ vật.
• Không biết chơi tưởng tượng, chơi giả vờ, chơi đóng vai.
• Giọng nói kỳ cục (chẳng hạn như cách nói nhấn giọng hay đơn điệu).
• Rất khó chịu khi thay đổi thói quen hàng ngày.
• Giao tiếp mắt vẫn còn hạn chế, dù có thể đã có một số cải thiện.
• Tương tác với người khác gia tăng nhưng vẫn còn hạn chế.
• Các cơn giận và sự gây hấn vẫn tồn tại nhưng có thể dần dần cải thiện.
• Tự làm tổn thương mình.
• Tự kích động.

Ngoài những biểu hiện này, khi khám bệnh, trẻ tự kỷ có những bất thường cận lâm sàng: Gần 60% bệnh nhân có nồng độ canxi trong máu giảm hoặc điện não đồ có sóng bất thường. Các nhà nghiên cứu cho rằng có tới 70% trẻ tự kỷ bị chậm phát triển trí tuệ. Sự phát triển nhận thức của trẻ hết sức bất thường, so sánh nhận thức xét trên mặt bằng chung thấp hơn trẻ cùng tuổi. Đồng thời sự tiến triển nhận thức cũng không phát triển theo logic thông thường, vì ngoài chậm phát triển, trẻ còn có biểu hiện rối loạn phát triển. Do đó việc giáo dục cho trẻ tự kỷ là điều khó khăn và phức tạp. 

 

(Nguồn: Cục bảo vệ trẻ em, Bộ LĐTBXH)


 

Nếu can thiệp trước 2 tuổi, trẻ tự kỷ có cơ hội phát triển bình thường đến 80%. Nhưng trên thực tế, gần 50% trường hợp phát hiện bệnh sau 3 tuổi. ThS. Nguyễn Thị Hương Giang, Khoa vật lý trị liệu – phục hồi chức năng BV Nhi TW, cho biết chỉ với 23 câu hỏi nhanh, cha mẹ có thể xác định được phần nào nguy cơ trẻ bị tự kỷ.

 

 

23 câu hỏi nhận biết sớm nguy cơ tự kỷ ở trẻ 18-24 tháng tuổi:

1. Trẻ có thích được đung đưa, nhún nhảy trên đầu gối của bạn không?

2. Trẻ có quan tâm đến trẻ khác không?

3. Trẻ có thích trèo lên đồ vật như cầu thang không?

4. Trẻ có thích chơi ú oà/ trốn tìm không?

5. Trẻ đã bao giờ chơi giả vờ chưa (như giả vờ nghe điện thoại, chăm sóc búp bê…)?

6. Trẻ có bao giờ dùng ngón tay trỏ để chỉ, yêu cầu đồ vật?

7. Trẻ có dùng ngón tay trỏ để chỉ hoặc thể hiện sự quan tâm đến đồ vật?

8. Trẻ có bao giờ chơi đúng cách với các đồ chơi nhỏ (ôtô, khối xếp hình…) mà không cho vào miệng, nghịch lung tung hoặc thả chúng xuống?

9. Trẻ có bao giờ mang đồ vật đến khoe với bạn hoặc bố mẹ?

10. Trẻ có nhìn vào mắt của bạn lâu hơn 1 hoặc 2 giây không?

11. Trẻ có bao giờ quá nhạy cảm với tiếng động không (như bịt hai tai)?

12. Trẻ có cười khi nhìn thấy mặt bạn hay khi bạn cười không?

13. Trẻ có biết bắt chước không (chẳng hạn bạn làm điệu bộ trên nét mặt, trẻ có biết làm theo không)?

14. Trẻ có đáp ứng khi được gọi tên?

15. Trẻ có nhìn vào đồ vật/đồ chơi ở chỗ khác khi ta chỉ vào?

16. Trẻ có biết đi không?

17. Trẻ có nhìn vào đồ vật mà bạn đang nhìn không?

18. Trẻ có làm những cử động ngón tay bất thường ở gần mặt không?

19. Trẻ có cố gắng gây sự chú ý của bạn đến những hoạt động của trẻ?

20. Bạn có bao giờ nghi ngờ trẻ bị điếc?

21. Trẻ có hiểu điều mọi người nói không?

22. Thỉnh thoảng trẻ có nhìn chằm chằm một cách vô cảm hoặc đi tha thẩn không mục đích?

23. Khi đối mặt với những điều lạ, trẻ có nhìn vào mặt bạn để xem phản ứng của bạn không?

 

Trên thế giới, bảng câu hỏi sẽ cho kết quả nguy cơ cao khi trẻ có ít nhất 3 câu trả lời bất kỳ hoặc 2 câu then chốt (nằm trong các câu số 2, 7, 9, 13, 14, 15) là “không”.

Tuy nhiên, với các câu 11,18, 20, 22 thì câu trả lời “có” lại ám chỉ nguy cơ trẻ bị tự kỷ.

Theo kinh nghiệm thăm khám thực tế, không cần đến 23 câu hỏi, phụ huynh có thể xác định nguy cơ tự kỷ của con mình chỉ bằng 4 câu hỏi then chốt:

– Trẻ có dùng ngón tay trỏ để chỉ hoặc thể hiện sự quan tâm đến đồ vật không?

– Trẻ có mang đồ vật đến khoe với bạn hoặc bố mẹ không?

– Trẻ có phản ứng khi được gọi tên không?

– Trẻ có nhìn vào đồ vật/đồ chơi ở chỗ khác khi ta chỉ vào hay không?

Trẻ có cơ hội phát triển bình thường, nếu…

Nếu can thiệp trước 2 tuổi, cơ hội phát triển bình thường của trẻ rất lớn (đến 80%), sau 2 tuổi hiệu quả chỉ còn 50% và giảm dần khi phát hiện bệnh muộn hơn nữa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, gần một nửa trường hợp phát hiện bệnh sau 3 tuổi.

Nguy cơ mắc tự kỷ cao hơn hẳn ở trẻ nếu: mẹ bị nhiễm virus trong thời kỳ mang thai, trẻ sinh già tháng, trẻ bị ngạt khi sinh, trẻ phải can thiệp sản khoa khi sinh, trẻ vàng da ngay sau sinh bất thường, trẻ xem truyền hình trên 6 giờ/ngày… Theo đó, trẻ xem truyền hình trên 3 giờ/ngày có nguy cơ mắc tự kỷ cao gấp 20,6 lần trẻ xem dưới 3 giờ/ngày.

 

 

 


(GD&TĐ) – Ở Việt Nam, số gia đình có con tự kỷ ngày càng nhiều, nhất là tại các thành phố lớn. Nếu trẻ tự kỷ từ 1 – 3 tuổi được can thiệp kịp thời về y tế, giáo dục…, các em sẽ có cơ hội hòa nhập với cộng đồng. Song, công việc giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ hiện còn nhiều khó khăn, nhất là vấn đề đội ngũ GV chuyên biệt.

 

Trẻ tự kỷ: Gập ghềnh đường tới hòa nhập Trẻ tự kỷ: Gập ghềnh đường tới hòa nhập images667566 image001Trẻ tự kỷ: Ghập ghềnh con đường hòa nhập Trẻ tự kỷ: Gập ghềnh đường tới hòa nhập Trẻ tự kỷ: Gập ghềnh đường tới hòa nhập Tr    t    k    1
Lớp học của trẻ tự kỷ

           Nỗ lực đưa trẻ đến trường

Song song với việc đưa trẻ tự kỷ đến các trung tâm, bệnh viện để được can thiệp sớm thì công tác GD hòa nhập cần được coi trọng, tiến hành càng sớm thì hiệu quả càng cao. Nếu như trẻ ở thể nặng ở mức không biết đau hoặc rối loạn hành vi không thể điều chỉnh thì cần đưa vào trường chuyên biệt.

Số còn lại chiếm tới 70 -80% là trẻ tự kỷ ở thể nhẹ hoặc trung bình thì môi trường hòa nhập ở trường phổ thông là tốt nhất. Sự quan tâm, chia sẻ, tình yêu thương của giáo viên và các bạn trong lớp sẽ tạo cơ hội cho trẻ tự kỷ thuyên giảm hoặc hoàn toàn khỏi bệnh.

Có con năm nay lên lớp 5, chị Nguyễn Thu Hải (Hải An, Hải Phòng) chia sẻ: Chính cô giáo dạy con chị ở lớp mẫu giáo 3 tuổi đã phát hiện ra cháu tự kỷ bởi cô được đào tạo ở khoa Sư phạm chuyên biệt. Cả nhà chị rất hoang mang, lo lắng, mang bé đi chạy chữa khắp nơi. Rất may bé bị ở thể nhẹ, do nguyên nhân khi sinh bị ngạt, thiếu máu lên não. Vì vậy, qua một quá trình điều trị, bé dần khỏi, đến nay đã học lớp 5, không phải bỏ học giữa chừng, học lực xếp loại khá.

Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, việc đẩy mạnh GD hòa nhập cho trẻ khuyết tật nói chung, trẻ tự kỷ nói riêng đã được Bộ GD&ĐT chú trọng. Ngay tại Hà Nội có hơn 1.000 trẻ tự kỷ đang học cấp Tiểu học, một số ít đang học THCS mặc dù đây chưa phải là con số sát với thực tế.

HS tự kỷ nếu được GD hòa nhập một cách tích cực thì chỉ một thời gian sau các em đã có nhiều thay đổi, tiến bộ, hòa đồng cùng các bạn trong giờ học, giờ ngoại khóa, biết đọc, biết viết, biết làm toán, dù còn chậm hơn so với trẻ bình thường.

 

         Nhiều trăn trở

Trẻ tự kỷ: Gập ghềnh đường tới hòa nhập Trẻ tự kỷ: Gập ghềnh đường tới hòa nhập images667567 image003happy asian kid playing with teacher Trẻ tự kỷ: Gập ghềnh đường tới hòa nhập Trẻ tự kỷ: Gập ghềnh đường tới hòa nhập Tr    t    k   1
Trẻ tự kỷ cần được giáo dục hòa nhập

Dạy trẻ bình thường đã khó, với HS khuyết tật lại càng khó khăn bội phần. Chỉ cần sự thay đổi nho nhỏ trong hành vi, nhận thức của các em đã là kỳ công lớn của đội ngũ GV. Bên cạnh đó cần tuyên truyền để phụ huynh xóa bỏ mặc cảm, kéo gần khoảng cách giữa HS bình thường với HS tự kỷ khi GD hòa nhập.

Ông Phạm Xuân Tiến – Trưởng phòng GD Tiểu học, Sở GD&ĐT Hà Nội – chia sẻ: Dạy trẻ vốn là một công việc đầy khó nhọc, nhưng dạy trẻ tự kỷ còn lại khó nhọc hơn nhiều, bởi vì công việc này đòi hỏi người thực hiện không chỉ có chuyên môn vững vàng, mà còn phải có lòng thương yêu cao cả và tinh thần trách nhiệm.

Quan trọng hơn nữa là cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà chuyên môn, các bậc phụ huynh, các cơ quan ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong và ngoài nước, những người thực sự quan tâm đến tương lai và cuộc đời của trẻ em tự kỷ.

Tuy nhiên, công tác GD hòa nhập cho HS tự kỷ ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện nay, do kinh nghiệm còn ít, do điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đội ngũ GV nhiều trường mới tốt nghiệp sư phạm, không qua đào tạo chuyên biệt nên việc thực hiện công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ gặp nhiều khó khăn.

Đó chính là trăn trở của nhiều hiệu trưởng không chỉ riêng ở Hà Nội. Nhiều cô chia sẻ, thay đổi thời tiết đột ngột khiến trẻ tự kỷ hay phát bệnh. Lúc đó nếu GV hiểu tâm lý, cứ để trẻ tự dời lớp, ra sân, các em hò hét thỏa thích một lúc sẽ tự vào lớp học tiếp bình thường. Nếu không sẽ ảnh hưởng đến các bạn khác trong lớp.

Hiệu trưởng Trường Tiểu học Xuân Đỉnh (Từ Liêm, Hà Nội) cho biết: Trường có gần 10 trẻ  tự kỷ theo học ở một số lớp khác nhau. Có rất nhiều phụ huynh trẻ không thích cho con mình chơi chung với trẻ tự kỷ. Ở lứa tuổi tiểu học, HS còn quá bé nên cũng không muốn chơi với các bạn trong lớp có hành vi khác lạ, sống khép mình, hoặc vì nói mãi bạn chẳng chịu tiếp thu, toàn gây rối.

Mặt khác, do còn thiếu kinh nghiệm sống, thiếu kỹ năng sư phạm cũng như kinh nghiệm nghề nghiệp khiến một số GV khó xử lý tốt những tình huống sư phạm xảy ra với HS tự kỷ hòa nhập.

Đẩy mạnh công tác GD hòa nhập sẽ tạo cơ hội cho trẻ tự kỷ một cuộc sống bình thường. Tuy nhiên, công việc này rất cần sự chung tay của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

 

PGS.TS Lê Văn Tạc (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam): “Đối với trẻ tự kỷ nếu được hòa nhập và dìu dắt một cách khoa học thì các em có thể học tập và trưởng thành như trẻ bình thường khác”.ThS Nguyễn Thị Thanh (Trường CĐ Sư phạm Trung ương): “Ở nước ta có ba mô hình đào tạo dành cho trẻ tự kỷ là mô hình giảng dạy chuyên biệt, giảng dạy bán hòa nhập và giảng dạy hòa nhập. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy mô hình đem lại hiệu quả cao nhất là GD hòa nhập”. 

 

Theo GD & TĐ


Trẻ em, nhất là bé gái, nếu bố mẹ không biết cách chăm sóc đúng phương pháp, dẫn đến tật chân vòng kiềng sẽ rất xấu cho dáng đi của bé sau này. Bài viết này hướng dẫn các mẹ các nguyên nhân khiến bé bị tật chân vòng kiềng để giúp các mẹ biết cách phòng tránh cho bé.

Các bà, các chị khi chăm sóc con nhỏ vẫn thường nhắc nhau “không bế cắp nách” để tránh tật vòng kiềng cho trẻ. Tuy nhiên, trẻ bị vòng kiềng không phải hoàn toàn do nguyên nhân cắp nách mà do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trẻ bị vòng kiềng khi đi, người lắc lư, chân quàng sang hai bên khiến cho dáng đi rất xấu. Đặc biệt, các bé gái bị vòng kiềng, khi lớn sẽ thiệt thòi hơn các bạn vì chân vòng kiềng hạn chế vẻ đẹp hình thể của người con gái. Vậy, làm thế nào để tránh vòng kiềng cho đôi chân của bé? Nguyên nhân gây nên hiện tượng vòng kiềng do đâu? Chúng ta sẽ cùng các chuyên gia chăm sóc nhi khoa tìm hiểu vấn đề này.

Chân bình thường

– Chân bình thường là hai chân luôn thẳng khít, song song với nhau.

– Khi đứng, hai đầu gối và hai mắt cá bên trong đều sát khít.

Chân vòng kiềng (chân chữ o)

 Trẻ bị chân vòng kiềng Trẻ bị chân vòng kiềng Trẻ bị chân vòng kiềng Tr    b    ch  n v  ng ki   ng

– Chân vòng kiềng là chân khi đứng thắng, khớp gối hai bên nghiêng vào trong làm cho hai đầu gối không thẳng khít, có khe giữa khoảng 1,5cm.

Hoặc

– Khớp gối bình thường, cẳng chân cong vào trong hoặc hình cung, có khe giữa trên 1,5 cm. Những hiện tượng chân khác thường trên, người ta gọi là chân vòng kiềng, y học gọi đó là chân chữ O.

Nguyên nhân khiến trẻ bị chân vòng kiềng

– Trẻ bị còi xương do thiếu vitamin D là nguyên nhân chính dẫn đến vòng kiềng.

– Trẻ tập đứng, tập đi quá sớm.

– Trẻ béo phì, có cân nặng quá tải đối với đôi chân.

– Do thói quen sinh hoạt một số vùng không tốt như: địu trẻ trên lưng, trẻ thường xuyên phải cưỡi ngựa, lừa…

Các biện pháp hạn chế chân vòng kiềng:

Cho con bú sữa mẹ

– Trong sữa mẹ có nhiều dinh dưỡng, vitamin rất tốt cho sự phát triển xương của trẻ, vì vậy cần cho bé bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu.

– Trong sữa mẹ có vitamin D, một loại vitamin giúp bé hạn chế còi xương (còi xương là nguyên nhân gây vòng kiềng ở trẻ).

– Đến tuổi ăn dặm, cần bổ sung đầy đủ dưỡng chất, cung cấp đủ lượng calci và vitamin D cần thiết từ các sản phẩm từ sữa, lòng đỏ trứng… cho bé.  Cho trẻ bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu

Nắn chân tay cho bé

– Nắn chân cho bé một cách nhẹ nhàng, đều cả hai chân giúp lưu thông máu, rất tốt cho sức khỏe của trẻ.

– Khi nắn chân, các bé có xu hướng duỗi thẳng chân, rất thích thú….cha, mẹ nên nắn hướng vào trong, từ đùi xuống mắt cá chân, tạo thành thói quen cho bé, hạn chế tật vòng kiềng.

– Nên nắn chân hàng ngày, đều đặn, trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm.

Lưu ý: Thông thường bé trên 1 tuổi, hiện tượng chân cong, chân vòng kiềng sẽ hết.

Không bắt trẻ tập đi sớm

– Không cho bé ngồi xe tập đi quá sớm.

– Không tập đi cho trẻ bằng phương pháp đỡ 2 nách trẻ.

– Thời gian thích hợp để tập đi là ngoài 9 tháng.

Lưu ý:

Trọng lượng của cơ thể thường dồn ép xuống chân, vì vậy không được ép trẻ đứng hoặc đi quá sớm khi hệ xương chân của trẻ chưa đủ thời gian phát triển, khiến chân trẻ bị biến dạng (vòng kiềng).

Bổ sung đầy đủ vitamin D và calci

– Thiếu vitaminD trong thời gian dài sẽ làm giảm việc hấp thu calci, phốt pho và khiến sự phát triển của xương gặp trở ngại.

– Vitamin D và calci có tác dụng phát triển xương ở trẻ, vì vậy cần bổ sung đầy đủ calci cho trẻ, hạn chế tật vòng kiềng.

Lưu ý: Trẻ thiếu calci thường quấy khóc, hay vặn mình, ra nhiều mồ hôi, chậm phát triển chiều cao….

Tắm nắng cho trẻ

– Tắm nắng cho trẻ giúp sản sinh ra một lượng vitamin D cần thiết cho cơ thể.

– Khi trẻ đầy đủ vitamin D sẽ hạn chế các hiện tượng về xương, đặc biệt là bệnh còi xương (nguyên nhân gây vòng kiềng ở trẻ).

Lưu ý: Với những bé lớn (từ 2 đến 5 tuổi) chân bị cong nhiều, bố mẹ nên cho con đi khám bác sỹ để tư vấn về việc phẫu thuật chỉnh trục xương.

Tập cho con khỏi dáng đi vòng kiềng

Phương pháp 1:

– Bé tập đi theo đường thẳng, trên đầu đặt quyển sách.

– Khi di chuyển, không để sách rơi xuống sàn.

Mục đích: Tập trung vào bước đi, muốn sách không rơi, bắt buộc chân, lưng, hông phải thẳng để lấy thăng bằng, qua đó khắc phục tật vòng kiềng ở trẻ.

Phương pháp 2:

– Tập các động tác thể dục nhẹ nhàng như: vươn vai, chống tay lên hông, nhảy theo nhạc…

Mục đích: tạo thói quen giữ thẳng vai, lưng, hông và đôi chân săn chắc.

Lưu ý khi trẻ tập đi

– Tập giữ thăng bằng trọng lượng cơ thể cho trẻ trước khi tập đi.

– Luôn theo sát trẻ và đặt gối, chăn ở sát sau trẻ để nâng đỡ, tránh áp lực mạnh ảnh hưởng đến đốt sống hoặc tránh bé bị ngã ảnh hưởng tới hệ xương chân.

Phương pháp chữa bệnh vòng kiềng bẩm sinh

– Phẫu thuật bó (nẹp chân hoặc bó bột)

– Phẫu thuật sắp lại xương.

Lưu ý: khi phương pháp bó chân không có kết quả, các bác sĩ sẽ can thiệp bằng phẫu thuật khi có sự đồng ý của gia đình.

Để trẻ tập đi, tập đứng phù hợp với sự phát triển tự nhiên của bé

Nếu chân bé chỉ cong ở cẳng chân thì không thể gọi là chân vòng kiềng, bố mẹ chỉ cần lo lắng khi chân của bé cong từ trên dùi xuống bàn chân. Vì vậy, ta phải phân biệt được chân cong sinh lý và chân cong bệnh lý.

Phần lớn, trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi đều bị cong cẳng chân do tư thế nằm trong bụng mẹ. Tuy nhiên, đây là hiện tượng cong chân sinh lý, chân trẻ sẽ tự thẳng khi 1 tuổi mà không cần xoa bóp hay điều trị gì.

Để giữ gìn đôi chân bé được khỏe, đẹp, cần cho trẻ bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu. Các thành phần dinh dưỡng, vitamin, đặc biệt là vitamin D trong sữa mẹ giúp hệ xương phát triển sẽ hạn chế tật vòng kiềng ở trẻ.

Ngoài ra, cha mẹ không nên nôn nóng cho bé tập đi sớm khi trẻ chưa phát triển toàn diện, ảnh hưởng đến sức khỏe đôi chân cũng như vẻ đẹp hình thể của trẻ sau này.

 

Trẻ đứng và tập đi quá sớm dễ bị chân vòng kiềng

Nhiều bà mẹ thường lo con sẽ bị chân vòng kiềng khi có ai đó bế con mình dưới dạng “cắp nách”. Tuy nhiên, các bác sĩ chuyên khoa cho rằng, cách bế trẻ như vậy không phải là nguyên nhân dẫn đến chân bị vòng kiềng mà do nhiều tác động khác.

Theo các bác sĩ chuyên khoa, lo lắng của các bà mẹ là hơi thừa và không đúng khi cho rằng vì bế cắp nách sớm mà trẻ bị chân vòng kiềng. Thay vào đó, việc cho trẻ đứng và tập đi sớm lại dễ gây chân vòng kiềng hơn do xương cẳng chân của bé còn yếu, chưa đỡ được sức nặng của cơ thể, nhất là đối với những trẻ quá bụ bẫm hoặc béo phì.

Bác sĩ Nguyễn Thanh Phước chuyên khoa cấp 2 nhi, Phòng Nghiệp vụ Y, Sở Y tế cho biết, việc cho trẻ tập đứng, đi sớm có thể ảnh hưởng đến hình dáng và chức năng của chân do hệ xương của trẻ chưa phát triển hoàn thiện. Chân của trẻ dưới 6 tháng tuổi thường bị cong nhưng đây là hiện tượng cong cẳng chân sinh lý do tư thế của trẻ trong bụng mẹ. Theo thời gian, chân của trẻ sẽ thẳng dần ra. Tuy nhiên, một số trường hợp, do sự can thiệp không đúng cách của bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ có thể khiến tình trạng cong chân của trẻ trở nên nghiêm trọng hơn, từ cong chân sinh lý có thể dễ bị chân vòng kiềng.

Trên thực tế, nhiều người vẫn cho rằng, việc bế cắp nách trẻ là nguyên nhân dẫn đến chân vòng kiềng, và cho trẻ tập đứng, tập đi rất sớm để “cứng, thẳng chân”. Quan niệm này hoàn toàn sai lầm và không có tính khoa học. Có nhiều nguyên nhân khiến chân vòng kiềng, trong đó có việc tập đứng, đi quá sớm cho trẻ khi trẻ chưa đến giai đoạn tập đứng chững hoặc đi. Ở mỗi trẻ khác nhau sẽ có thời gian tập đứng, đi khác nhau, không nên nóng vội khi trẻ chưa đến giai đoạn này. Một số nguyên nhân khác có thể gây chân vòng kiềng như yếu tố di truyền, còi xương. Còi xương là một rối loạn phát triển xương thường do thiếu vitamin D, can xi, trẻ bị còi xương thường có những biểu hiện như cẳng chân cong, đau cơ, gan lách to…

Bác sĩ Phước cho biết, việc nắn chân cho trẻ hoàn toàn không có tác dụng làm thẳng chân trong trường hợp trẻ bị chân vòng kiềng. Việc nắm bóp chân này chỉ có tác dụng xoa bóp, mát xa làm trẻ dễ chịu hơn. Trong trường hợp trẻ bị chân vòng kiềng do di truyền cần phải khám để can thiệp điều trị bằng các phương pháp y khoa. Với những trẻ bị chân vòng kiềng do còi xương, thiếu vitamin D hoặc canxi, việc điều trị chỉnh hình sẽ kết hợp với bổ sung các chất trên trong chế độ ăn hàng ngày. Thông thường các trường hợp bị chân vòng kiềng sẽ được can thiệp chỉnh chân khi trẻ trên 5 tuổi,cha mẹ cần đưa con đến các bệnh viện chỉnh hình lớn để được tư vấn bởi các bác sĩ chuyên khoa và có các xử lý tốt nhất và phù hợp nhất. dưới độ tuổi này nên để trẻ phát triển tự nhiên, bổ sung dinh dưỡng đầy đủ cho trẻ.

Việc phòng tránh chân vòng kiềng cho trẻ có thể được thực hiện khá đơn giản từ khi sinh ra bằng cách cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, và tắm nắng thường xuyên, cho trẻ để bổ sung vitamin D tự nhiên. Từ tuổi ăn dặm trở đi, trẻ cần được ăn uống đủ chất dinh dưỡng như: rau, quả, sữa, thịt, cá, tôm… hàng ngày vào buổi sáng cho bé tiếp xúc với ánh nắng để hấp thụ vitamin D tránh bị còi xương là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng chân vòng kiềng. và tránh để trẻ béo phì vì có thể khiến xương của trẻ phải chịu áp lực lớn, không phát triển tự nhiên. Không cho trẻ tập đi quá sớm so với độ tuổi.

Theo dotcardglenndoman

 


           

Trong một nghiên cứu mới công bố, các khoa học khẳng định việc can thiệp sớm bằng phương pháp tương tác xã hội sẽ giúp trẻ tự kỷ cải thiện được chỉ số IQ, khả năng ngôn ngữ và thích nghi.

 Can thiệp xã hội sớm giúp trẻ tự kỷ cải thiện nhận thức Can thiệp xã hội sớm giúp trẻ tự kỷ cải thiện nhận thức Can thiệp xã hội sớm giúp trẻ tự kỷ cải thiện nhận thức Can thi   p x   h   i s   m gi  p tr    t    k    c   i thi   n nh   n th   c1

 Một tổ chức chuyên nguyên cứu về biện pháp can thiệp giúp cải thiện khả năng nhận thức ở trẻ tự kỷ đã ghi nhận hiệu quả của phương pháp tương tác xã hội đối với các trẻ tự kỷ. Nghiên cứu này được thực hiện tại một trường đại học ở Washington, nằm trong chuỗi chương trình chuyên biệt nhằm tìm hiểu về các phương pháp cải thiện nhận thức và phản ứng của bộ não trẻ tự kỷ.

 Đứng đầu nhóm nghiên cứu, bà Geraldine Dawson, đồng thời thời là trưởng nhóm vận động tự kỷ cho biết: “Quá trình lớn lên và tiếp thu của một đứa trẻ đang tập đi ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng tương tác xã hội hằng ngày của các em. Riêng đối với những đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ thì sự can thiệp sớm của cộng đồng sẽ giúp các bé nhận thức được sự tương tác, quan tâm của cộng đồng. Việc này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển bình thường của não bộ và hành vi của đứa bé”.

 Các nhà khoa học đã chứng minh việc can thiệp xã hội giúp trẻ tự kỷ cải thiện khả năng nhận thức. Ảnh: Sciencedaily.
Nhóm nhà khoa học của bà Geraldine đã nghiên cứu trên 48 trẻ em từ 18 đến 30 tháng tuổi được chẩn đoán mắc bệnh tự kỷ. Các bé được phân chia làm các nhóm tham gia vào cộng đồng và thường xuyên được tác động trực tiếp hoặc bằng mô hình can thiệp xã hội sớm Denver.

 Toàn bộ những đứa trẻ tham gia vào nghiên cứu này sẽ được tiếp cận các phương pháp can thiệp tương tác xã hội, thực hiện khoảng 20 giờ mỗi tuần trong vòng 2 năm. Riêng những đứa trẻ đã mắc bệnh tự kỷ sẽ được phân ngẫu nhiên vào các nhóm và được những chuyên gia trị liệu đến tận nhà điều trị. Mỗi lần trị liệu kéo dài khoảng 2 tiếng đồng hồ, mỗi ngày thực hiện 2 lần, mỗi tuần 5 ngày.

Denver là một phương pháp giáo dục dựa trên các mối quan hệ và sự phát triển, sử dụng những kỹ thuật giảng dạy đặc thù. Mô hình Denver chú trọng đến việc tham gia, trao đổi, chia sẻ của trẻ trong các hoạt động xã hội. Bà Geraldine đã xây dựng và phát triển phương pháp can thiệp này cùng cộng sự của bà là giáo sư Sally Rogers, công tác tại Viện UC Davis MIND.

 Trong quá trình điều trị, cha mẹ của những đứa trẻ tự kỷ cho biết phương pháp này đem lại những chuyển biến tích cực về mặt nhận thức của con họ. Các nghiên cứu trước đó đã cho thấy việc can thiệp xã hội giúp cải thiện được chỉ số IQ, ngôn ngữ và khả năng thích nghi của trẻ tự kỷ. Riêng trong nghiên cứu lần này, các nhà khoa học muốn chú trọng vào khả năng cải thiện não bộ của trẻ tự kỷ như thế nào.

 Sau 2 năm điều trị bằng phương pháp can thiệp xã hội, các nhà nghiên cứu theo dõi chức năng não của những đứa trẻ tự kỷ (lúc này đã được khoảng 4 – 5 tuổi) bằng biện pháp đo điện não. Bên cạnh đó, họ còn đo khả năng nhận thức của các bé bằng tương tác xã hội (chẳng hạn như khả năng nhận diện gương mặt) và các kích thích không mang tính xã hội (khi tiếp xúc với đồ chơi).

Thông thường, những đứa trẻ bình thường có thể thay đổi nét mặt nhanh chóng theo nhận thức, nhưng các trẻ tự kỷ thì phản ứng của nét mặt sẽ biểu lộ trễ hơn so với nhận thức. Tuy nhiên kết quả theo dõi lần này ghi nhận, những đứa trẻ được chẩn đoán mắc bệnh tự kỷ đã có phản ứng của não bộ tương ứng với nét mặt giống như những đứa trẻ bình thường. Ghi nhận này chứng minh rằng phương pháp can thiệp xã hội lên nhóm trẻ mắc bệnh tự kỷ giúp các em có thể phát triển bắt kịp những đứa trẻ bình thường.

“Nếu não bộ có thể nhận diện một cách nhanh chóng một khuôn mặt thì cũng có thể nhanh chóng nhận diện được khuôn mặt đó là của đàn ông hay phụ nữ, hạnh phúc hay không hạnh phúc, quen thuộc hoặc xa lạ. Đây là một điều tuyệt vời”, đại diện nhóm nghiên cứu lý giải.

Qua kết quả nghiên cứu lần này, bà Geraldine khuyên, các nhà giáo dục và cha mẹ không nên chỉ chú trọng vào một biện pháp can thiệp chuyên sâu đối với trẻ tự kỷ mà quên đi sự tương tác xã hội, tương tác lẫn nhau của trẻ. Các biện pháp này đều có tác dụng tích cực. Đây là lần đầu tiên, phụ huynh và những người nghiên cứu về trẻ tự kỷ có những bằng chứng khoa học về sự can thiệp sớm có thể cải thiện sự phát triển của cả não bộ và hành vi ở trẻ tự kỷ.

Thi Trân (Sciencedaily)


Page 25 of 25« First...10...2122232425